 chuyển được lòng dạ của Giáp, Bính, Đinh
quyết định hy sinh thân mình để cứu bạn. Họ bèn lên quan nói rằng
tháy vợ ất đẹp quá nên hai người thừa dịp ất đi vắng đến bắt để hãm
hiếp, xong việc, sợ nàng tố cáo bèn giết đi chặt lấy đầu vứt xuống
sông cho mất tích. Nay cả hai người hết sức hối hận, biết rằng thế
nào cũng có ngày bại lộ nên ra thú trước để may ra nhờ lượng trên
khoan giảm.
Quan nghe chuyện, lập tức sai giam Bính và Đinh lại mà tha
bổng cho ất. án của hai người không mấy chốc mà thành. Họ bị tội
lăng trì tùng xẻo và bêu thây, nhưng vì "tiên năng tự thú" nê chỉ làm
án chém. Và ngày giải ra pháp trường đã đến.
Nhưng khi đao phủ sắp sửa khai đao, thì người ta bỗng thấy
một cô gái len lỏi khỏi vòng người chật ních, tất tả chạy đến trước
mặt quan. Hai tay cô chỉ trỏ, miệng ú ớ, làm dấu hiệu ngăn cản.
Quan lấy làm lạ, nghĩ rằng người này hẳn có biết ít nhiều về án
mạng chi đây, nên vội hạ lệnh cho đao phủ ngừng tay, giải tội nhân
trở về nhà giam để đợi tra cứu.
Về đến công đường, quan sai tìm thầy thuốc cắt cho người con
gái nọ một chén thuốc chữa tật câm. Chén thuốc rất hiệu nghiệm, cô
gái quản lần lần nói được: Đó là người đầy tớ gái nhà Giáp. Và cô ta
đã kể lại rành mạch những hành động của chủ mình cho mọi người
hay.
Vụ án nhờ thế được sáng tỏ. Quân lính hạ lệnh kéo ngay đến
nhà Giáp, mở cửa buồng trả vợ ất về với chồng. Đồng thời, quan sai
đóng gông Giáp lại, điệu vào nhà lao nhận lấy cái án tử hình, thay
cho Bính và Đinh. Nghĩ tình bạn bè, hai người này cố sức trình bày
với quan để Giáp được khỏi chết với số tiền chuộc tội một ngàn quan.
Cuối cùng Giáp cũng được tạm miễn tội. Nhưng khi tội nhân được
tháo gông bước ra khỏi công đường thì bỗng một tiếng sét nổ vang
giữa trời quang mây tạnh: thần sét đã nhảy xuống thình lình đánh
chết hắn. Và khi người ta khiêng xác Giáp về thì dọc đường bị một
con hổ từ đâu trong bụi cây nhảy ta vồ lấy xác, mang đi mất tích.


CÂY HUYẾT DỤ
Ngày xưa có một bác đồ tể chuyên mua lợn về giết thịt để mang
bán ở chơ. Nhà bác ta ở bên cạnh một ngôi chùa làng. Hàng ngày,
vào lúc mờ sáng là lúc sư cụ bên chùa theo lệ thường dậy tụng kinh.
Và cũng theo lệ thường dậy tụng kinh. Và cũng theo lệ thường, sư cụ
thức chú tiểu dậy gõ một hồi chuông mai. Bấy giờ cũng là lúc bác đồ
tể sửa soạn giết lợn cho nên bác ta quen lấy tiếng chuông chùa làm
chứng thức dậy làm việc hàng ngày. Cứ như thế ngày nào cũng như
ngày nào không bao giờ sai lạc.
Một đêm nọ, sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà dắt năm
đứa con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy vái để, miệng nói: "Xin
cứu mạng! Xin cứu mạng" rối rít. Sư cụ hỏi người đàn bà:
- "A di đà Phật! Cứu mạng là cứu thế nào! Bần tăng phải làm gì
đây?".
Người mẹ điệu bộ hãi hùng ấy trả lời:
- "Ngày mai xin hoà thượng hãy cho đánh chuông chậm lại.
Như vậy mẹ con chúng tôi rất đội ơn". Nhà sư tỉnh dậy không hiểu
thế nào cả. Nhưng tờ mờ sáng hôm đó, vâng theo lời báo mộng, sự cụ
chỉ lâm râm đọc kinh cầu nguyện mà không thức chú tiểu dậy thỉnh
chuông.
Lại nói chuyện cũng hôm ấy bác đồ tể ngủ một giấc li bì. Mãi
đến lúc mặt trời lên chừng một con sào, tiếng chuông chùa mới bắt
đầu vang rền làm cho bác giật mình choàng dậy. Thấy trời đã quá
trưa, bác không dám giết lợn như thường lệ vì nếu làm thịt thì khi
đưa ra đến chợ, chợ đã vãn người rồi. Tức mình vì lỡ một phiên chợ,
bác lật đật sang chùa trách sư cụ. Sư cụ cho biết câu chuyện nằm
mộng đêm qua để phân trần với ông hàng xóm không phải lỗi tại
mình.
Nhưng lúc bước chân về chuồng lợn nhà mình thì bác đồ tể
ngạc nhiên thấy con lợn cái mua ngày hôm qua toan giết thịt sáng đó
đã đẻ được năm con lợn con. Vừa mừng vừa sợ, bác ta kể lại cho mọi
người biết sự lạ lùng:
- Đúng là linh hồn người đàn bà ẩn trong con lợn cái đã tìm
cách cứu bầy con của mình khỏi chết".
Tự nhiên bác đồ tể đâm ra suy nghĩ. Bác thấy bàn tay mình đã
từng vấy máu biết bao nhiêu sinh mạng. Trong một lúc hối hận đến
cực điểm, bác ta cầm con dao bầu chạy sang chùa bộc bạch nỗi lòng
với sư cụ. Bác ta quả quyết cắm con dao của mình trước sân chùa,
thề trước Phật đài từ nay xin giải nghệ.
Không rõ bác đồ tể rồi sau đó thế nào, nhưng con dao của bác tự
nhiên hóa thành một loại cây có lá đỏ như máu và nhọn như lưỡi dao
bầu, người ta vẫn gọi là cây huyết dụ.


CÂY KHẾ
Một nhà kia có hai anh em, cha mẹ đều chết cả. Hai anh em
chăm lo làm lụng, nên trong nhà cũng đủ ăn. Muốn cho vui cửa vui
nhà, hai người cùng lấy vợ. Nhưng từ khi có vợ, người anh sinh ra lời
biếng, bao nhiêu công việc khó nhọc, đều trút cả cho hai vợ chồng
người em.
Hai vợ chồng người em thức khuya dậy sớm, lại cố gắng cày
cấy, làm cỏ, bỏ phân, lúa tốt hơn trước, nên đến mùa, được bội thu.
Thấy thế, người anh sợ em kể công chiếm lấy phần hơn, vội bàn với
vợ cho hai vợ chồng người em ra ở riêng.
Ra ở riêng với vợ, người em được người anh chia cho có một
căn nhà tranh lụp xụp, trước nhà có một cây khế ngọt. Hai vợ chồng
người em không phàn nàn một lời, hết vào rừng đốn củi đem ra chợ
bán, lại đi gánh mướn, làm thuê.
Còn người anh có bao nhiêu ruộng nương đều cho làm rẽ, để
ngồi không hưởng sung sướng với vợ. Thấy em không ca thán, người
anh cho em là ngu si, lại càng lên mặt, không lui tới nhà em và cũng
không để ý gì đến em nữa.
Những ngày sung sướng nhất của hai vợ chồng người em là
những ngày khế chín. Quanh năm, hai vợ chồng đã chăm bón và bắt
sâu, đuổi kiến cho cây khế, nên cây khế xanh mơn mởn, bóng rợp
khắp mảnh vườn nhỏ bé, quả lúc lỉu cả ở những cành là sát mặt đất,
trẻ lên ba cũng với tay được.
Một buổi sáng, hai vợ chồng mang quang gánh và thúng bị ra
gốc khế, định trèo lên hái quả đem ra chợ bán thì thấy trên ngọn cây
rung động rất mạnh, như có người đang trèo. Hai vợ chồng nhìn lên
thì thấy một con chim rất lớn đang ăn những quả khế chín vàng. Hai
vợ chồng đứng dưới gốc cây xem chim ăn, đợi chim bay đi rồi mới trèo
lên cây hái quả. Từ đấy, cứ mỗi buổi sáng tinh mơ, hai vợ chồng ra
hái khế, thì đã lại thấy chim ở trên cây rồi. Thấy có người, chim vẫn
cứ ăn, ung dung một lúc lâu, rồi mới vỗ cánh bay đi. Chim ăn ròng rã
như thế ngót một tháng trời, cây khế vợi hẳn quả.
Một hôm, đứng đợi cho chim ăn xong, người vợ nói nửa bỡn
nửa thật với chim: "Chim ơi, chim ăn như thế thì còn gì là khế của
nhà tôi nữa! Cây khế nhà tôi cũng sắp hết quả rồi đấy, chim ạ!".
Chim bỗng nghển cổ, nheo mắt như cười, đáp lại: "Ăn một quả, trả
cục vàng! May túi ba gang, đem đi mà đựng". Chim nhắc đi nhắc lại
câu ấy ba lần, rồi mới vỗ cánh bay đi.
Hai vợ chồng thấy chim biết nói đã lấy làm lạ, lại thấy chim
bảo mình như thế, nhắc lại cho mình đến ba lần, nghe rõ mồn một,
nên càng suy nghĩ, phân vân. Nhưng rồi hai vợ chồng cũng làm theo
lời chim. Người vợ lấy vài vuông vải nâu may cho chồng một cái túi,
ngang dọc đúng ba gang.
Sáng hôm sau, hai vợ chồng vừa ăn xong thì thấy một luồng
gió mạnh cuốn cả cát bụi trước sân nhà, rồi trong chớp mắt một con
chim cực kỳ lớn hạ xuống giữa sân, quay đầu vào nhà kêu lên mấy
tiếng như chào hỏi. Người chồng xách cái túi ba gang ra sân, chim
nằm rạp xuống, quay cổ ra hiệu cho anh ngồi lên lưng mình. Anh
ngồi lên lưng chim, bám vào cổ chim thật chặt. Chim đứng dậy vươn
cổ, vỗ cánh bay bổng lên trời xanh. Chim lúc bay cao, lẩn vào mây
bạc; lúc bay thấp, là là trên rừng xanh, đồi núi trập trùng. Rồi chim
bay ra biển cả mênh mông, sóng biếc cao ngất vật vào sườn những
hòn đảo nhỏ, làm tung lên những bọt trắng xóa. Anh ngồi trên lưng
chim thấy biển tuyệt mù, không biết đâu là bờ... Thốt nhiên chim bay
vào một hòn đảo toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc, phản
chiếu ánh sáng rực rỡ, anh chưa từng thấy bao giờ. Chim bay một
vòng thật rộng xung quanh đảo như muốn tìm một nơi hạ cánh, rồi
bay những vòng hẹp hơn, là là trên các ngọn đá, lắm lúc anh tưởng
như mình sắp bị va vào những tảng đưá khổng lồ. Bay đến trước mặt
cái hang rộng và sâu, chim từ từ hạ xuống. Đặt chân xuống đảo, anh
nhìn ngó khắp nơi, tuyệt nhiên không thấy một sinh vật nào, không
có đến một ngọn cỏ hay một mống chim sâu.
Chim ra hiệu bảo anh vào hang, muốn lấy gì thì lấy. ở ngay
cửa hang, anh đã thấy toàn những thứ đá trong như thủy tinh và hổ
phách đủ các mầu; có thứ xanh như mắt mèo, có thứ đỏ ối như mặt
trời, còn vàng bạc thì nhiều như sỏi đá. Thấy hang sâu và rộng, anh
không dám vào sợ lạc. Anh nhặt một ít vàng và kim cương bỏ vào túi
ba gang, rồi trèo lên lưng chim, ra hiệu cho chim bay về.
Chim tỏ vẻ vui mừng, gật gật cái đầu, vươn cổ kêu vài tiếng,
rồi vỗ cánh bay lên trời xanh, bay qua biển, qua rừng, qua núi. Mặt
trời mới vừa đứng bóng, chim đã hạ cánh xuống cái vườn nhỏ có cây
khế ngọt. Người vợ thấy chồng về bình yên, mừng rỡ vô cùng, chạy ra
vuốt lông chim, tỏ ý cảm ơn, ra hiệu mời chim bay lên cây khế giải
khát. Chim bay lên cây khế ăn một lúc, rồi kêu ba tiếng như chào vợ
chồng người nông dân, rồi bay đi. Từ đấy, lâu lâu chim mới lại đến ăn
khế.
Tiếng đồn hai vợ chồng người em thốt nhiên giàu có bay đến
tai hai vợ chồng người anh. Hai vợ chồng người anh vội vã đến chơi
nhà em để dò xét. Nghe em thật thà kể chuyện, người anh gạ đổi hết
tài sản của mình để lấy túp lều tranh và cây khế. Hai vợ chồng chỉ lo
người em không chịu đổi, không ngờ người em vui vẻ ưng thuận
ngay.
Hai vợ chồng người anh mừng rỡ như mở cờ trong bụng, lập
tức giao hết tài sản của mình cho em, và sáng hôm sau dọn ngay đến
ở túp lều tranh trên mảnh vườn nhỏ có cây khế ngọt. đến ở mảnh
vườn chật hẹp, hai vợ chồng người anh không làm việc gì cả. Còn
được ít tiền hai vợ chồng đem tiêu dần, cả ngày chỉ nằm khểnh ngoài
hè, hí hửng nhìn lên cây khế, chờ chim bay đến. Một buổi sáng, có
một luồng gió mạnh tạt vào nhà, rồi hai vợ chồng thấy ngọn cây khế
rung chuyển. Hai người hớt hải chạy ra sân, vội nhìn lên cây thì quả
nhiên thấy một con chim lớn đưang ăn khế.
Chim mới ăn vài quả, hai vợ chồng đưã tru tréo lên: "Cả nhà
chúng tôi trông vào có cây khế, bây giờ chim ăn tào ăn huyệt như thế
thì chúng tôi còn trông cậy vào đâu!". Chim liền đáp: "ăn một quả,
trả 